Vụ án đòi nhà cho thuê ở Hàng Tre, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ VIỆC VÀ QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT:

 

Nhà số 987 Hàng Tre mang bằng khoán điền thổ số 401 khu hồ nhỏ có diện tích 110m2 là của cụ K (ông nội các nguyên đơn).

 

Năm 1962, cụ K cho Xưởng cơ khí ĐT (nay là công ty cổ phần ĐT) thuê với giá 05 đồng/tháng. Xưởng cơ khí ĐT trả tiền thuê nhà cho cụ K được 18 tháng thì không trả nữa.

 

Năm 1963, cụ K chết, gia đình đã nhiều lần yêu cầu Xưởng cơ khí ĐT trả tiền thuê nhà hoặc trả nhà nhưng đều không được giải quyết.

 

Từ năm 1973, xưởng cơ khí ĐT đã cho gia đình bà L (mẹ chồng bà NS, đã chết), ông H, thuê nhà 987 Hàng Tre.

 

Cụ K có 2 người con duy nhất là ông A và bà B (đều đã chết). Nay các con của ông A và bà B khởi kiện đòi Công ty cổ phần ĐT, bà NS, ông H trả lại nhà đất thuê tại 987 Hàng Tre.

 

 

Đòi nhà cho thuê ở Hàng Tre

 

Công ty cổ phần ĐT cho rằng: Theo sổ sách lưu tại Công ty thể hiện năm 1962 xưởng Cơ khí ĐT  ký hợp đồng thuê đất với cụ K. Theo đó, cụ K cho xưởng cơ khí ĐT thuê nhà đất tại 987 Hàng Tre với giá 05 đồng/tháng. Xưởng đã trả tiền thuê nhà cho cụ K được 18 tháng.

 

Năm 1963, do có Thông tư số 73/TTg ngày 02-7-1963 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ…. Theo nội dung Thông tư này thì đất tại 987 Hàng Tre của cụ K thuộc sở hữu Nhà nước nên Xưởng cơ khí ĐT đã không trả tiền thuê nhà cho cụ K nữa mà chuyển sang thuê nhà của Nhà nước.

 

Năm 1973, Xưởng cơ khí ĐT đã cho 03 hộ là bà L (mẹ chồng bà NS), ông H và ông Đ thuê lại nhà 987 Hàng Tre, có làm hợp đồng thuê nhà. Các hộ gia đình này đã sử dụng nhà đất từ đó đến nay.

 

Năm 2006, UBND thành phố có quyết định cổ phần hóa Công ty ĐT và đổi thành Công ty cổ phần ĐT. Phần tài sản trên đất được đưa vào để cổ phần hóa. Riêng đất tại 987 Hàng Tre Nhà nước vẫn tiếp tục cho thuê để sản xuất kinh doanh và ở.

 

Quan điểm của Công ty ĐT là nếu nhà 987 Hàng Tre thuộc sở hữu của cụ K thì Công ty sẽ trả lại, phần tài sản trên đất sẽ thỏa thuận mức đền bù nhưng nếu thuộc sở hữu Nhà nước thì Công ty sẽ không tiếp tục cho bà NS, ông H thuê mà sẽ lấy lại để xây dựng phục vụ sản xuất kinh doanh.

 

Bà NS cho rằng: Năm 1973, gia đình bà cùng một số hộ gia đình khác được Xưởng cơ khí ĐT bố trí đến ở tại 987 Hàng Tre. Gia đình bà vẫn trả tiền thuê nhà đầy đủ cho phía Công ty ĐT. Nay con cháu của cụ K có yêu cầu đòi nhà, quan điểm của bà nếu nhà 987 Hàng Tre thuộc sở hữu của cụ K thì đề nghị nguyên đơn hỗ trợ cho gia đình bà một ngôi nhà khác đảm bảo sinh hoạt cho 06 người trong gia đình.

 

Giữa bà và phía nguyên đơn đã có thỏa thuận là bà cùng con cháu đồng ý giao lại toàn bộ nhà đất đang sử dụng tại 987 Hàng Tre cho nguyên đơn; phía nguyên đơn hỗ trợ cho gia đình bà 1.250.000.000 đồng. Bà đồng ý với sự thỏa thuận này.

 

Ông H cho rằng; Năm 1976, ông được Xưởng cơ khí ĐT phân cho 7m2 tại 987 Hàng Tre cùng các hộ bà L (mẹ chồng bà NS), ông Đ, ông Đài, ông Lộc. Gia đình ông đã trả tiền thuê nhà cho Nhà máy cơ khí ĐT đến năm 1986 thì nhà máy không thu tiền nhà nữa.

 

Năm 1982, ông đã mua lại diện tích của hộ ông Đài, ông Đ, ông Lộc và sử dụng cộng với diện tích được phân là 21m2. Nay gia đình cụ K có yêu cầu lấy lại nhà đất phải thỏa thuận với ông.

 

Giữa ông và nguyên đơn có thỏa thuận là gia đình ông sẽ trả lại nhà tại 987 Hàng Tre, phía nguyên đơn sẽ hỗ trợ cho gia đình ông 2.000.000.000 đồng. Ông đã nhận tiền và giao nhà đất cho nguyên đơn.

 

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 555/2007/DS-ST 15-9-2007, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm quyết định:

 

Chấp nhận yêu cầu đòi nhà đất của nguyên đơn. Buộc công ty ĐT, bà NS, ông H trả lại toàn bộ diện tích đang thuê tại 987 Hàng Tre, Hà Nội. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn hỗ trợ cho bà NS và các con 1.250.000.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền giá trị xây dựng. Hỗ trợ cho gia đình ông H 2.000.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn thanh toán giá trị sửa chữa cải tạo nhà cho công ty ĐT số tiền là 28.617.000 đồng.

 

Sau đó, Công ty cổ phần ĐT có đơn kháng cáo đối với cả hai bản án sơ thẩm nêu trên.

 

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 333/2008/DS-PT ngày 11-2-2008 quyết định: giữ nguyên bản án sơ thẩm.

 

NHẬN ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ:

 

Về nguồn gốc nhà đất tranh chấp:

 

Căn cứ vào Bằng khoán điền thổ số 401, khu D, số 237, diện tích 110m2 tại 987 Hàng Tre đứng tên chủ sở hữu là cụ K. Đủ cơ sở khẳng định nguồn gốc nhà đất tranh chấp là của cụ Nguyễn Đăng K (ông nội, ông ngoại các nguyên đơn) và mang biển số nhà 987 Hàng Tre

 

Về quá trình sử dụng nhà đất tranh chấp:

 

Ngày 24-01-1962, Sở Quản lý Nhà đất có công văn số 216 gửi Phòng Nhà cửa khu phố Hoàn Kiếm có nội dung xác nhận đám đất số 987 Hàng Tre diện tích 100m2 của cụ K không nằm trong diện cải tạo và yêu cầu Phòng Tài vụ của Sở tính hoàn lại tiền thu nhận cho cụ K. Trong năm 1962 cụ K cho xưởng Cơ khí ĐT thuê đất tại 987 Hàng Tre để xây dựng xưởng sản xuất với giá 05 đồng/tháng, có lập hợp đồng thuê đất. Xưởng cơ khí ĐT đã trả tiền thuê cho cụ K được 18 tháng. Năm 1963, cụ K chết, từ đó Xưởng cơ khí không trả tiền thuê đất nhưng vẫn sử dụng đất.

 

Từ năm 1973 đến năm 1976, Xưởng cơ khí ĐT cho các gia đình bà L (mẹ chồng bà NS), ông Đ, ông Lộc, ông H (là các công nhân viên của xưởng) thuê lại nhà 987 Hàng Tre. Sau này ông H mua lại toàn bộ diện tích thuê của ông Đ, ông Lộc. Gia đình bà NS và ông H sử dụng nhà 987 Hàng Tre từ đó đến khi xảy ra tranh chấp.

 

Công ty cổ phần ĐT cho rằng nhà đất của cụ K cho thuê đã bị cải tạo theo Thông tư 73/TTg ngày 07-7-1962 nhưng không xuất trình được quyết định quản lý của Nhà nước. Trong khi đó, các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đến thời điểm hiện nay vẫn xác định nhà đất tại 987 Hàng Tre thuộc quyền sở hữu của cụ K. Do đó, không có căn cứ xác định diện tích đất cụ K cho thuê tại 987 Hàng Tre đã giao Nhà nước quản lý mà vẫn thuộc sở hữu của cụ K. Việc các đồng thừa kế của cụ K khởi kiện yêu cầu công ty cổ phần ĐT (bên thuê đất) và gia đình bà NS, ông H (là người đang sử dụng đất) trả lại đất thuê tại 987 Hàng Tre là có cơ sở. Tòa án các cấp đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ pháp luật.

 

Trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn và gia đình bà NS, ông H đã thỏa thuận được với nhau về việc giao nhà. Theo đó, gia đình bà NS và ông H đồng ý giao lại toàn bộ diện tích đang sử dụng tại 987 Hàng Tre cho nguyên đơn, phía nguyên đơn đồng ý hỗ trợ cho gia đình bà NS 1.250.000.000 đồng, gia đình ông H 2.000.000.000 đồng. Ngoài ra, phía nguyên đơn còn tự nguyện thanh toán giá trị xây dựng cho gia đình bà NS số tiền 20.000.000 đồng, cho công ty cổ phần ĐT số tiền là 28.617.600 đồng. Tòa án các cấp đã ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:

Tags

Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH TƯ VẤN
Hotline: 096 9920 558