Vụ án Việt kiều nhờ người Việt Nam mua hộ nhà đất

NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

 

Nguyên đơn là ông NJ trình bày:

 

Ông là người gốc Việt Nam có quốc tịch Hoa Kỳ, về Việt Nam sinh sống từ năm 2000. Từ khi về Việt Nam, ông quen thân với bà KN, nên có đưa cho bà KN 275 lượng vàng SJC và 24.500 USD để nhờ bà KN mua hộ đất, vì ông là Việt kiều không được phép đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Số tiền và vàng trên ông đưa cho bà KN thành nhiều lần và đều không viết giấy biên nhận. Thực tế, bà KN không mua hộ ông đất, nên ông đòi lại tiền vàng thì bà KN có viết giấy hẹn đến ngày 15/8/2002 sẽ trả. Đến hẹn bà KN không chịu trả ông tiền, mãi đến tháng 12/2002 bà KN mới trả được cho ông 31 lượng vàng và 24.500 USD, sau đó không trả nữa mặc dù ông đòi nhiều lần.

 

Do bà KN không chịu trả tiền nên năm 2003, ông đã lén lút lấy 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà KN để gây áp lực buộc bà KN trả tiền. Cũng trong năm 2003, ông khởi kiện đòi tiền bà KN. Tại buổi hòa giải ngày 30/9/2003, sau khi nghe Thẩm phán TQV giải thích về nghĩa vụ nộp án phí, ông và bà KN đã thỏa thuận lập 02 biên nhận: 01 biên nhận có nội dung bà KN xác nhận còn giữ của ông 234 lượng vàng và chịu trách nhiệm làm thủ tục sang tên chiếc xe ô tô Camry V6 cho ông; 01 biên nhận có nội dung ông xác nhận nợ bà KN 4.000 USD, 26.000.000 đồng và 01 bìa đỏ đứng tên bà KN với diện tích 11.387m2đất. Sau khi viết biên nhận, Thẩm phán có giải thích việc ông giữ bìa đỏ của bà KN là không đúng, nên ông đã trả lại bìa đỏ này cho bà KN trước sự chứng kiến của Thẩm phán, ông có yêu cầu Thẩm phán lập biên bản về việc giao trả này nhưng không được chấp nhận. Sau đó ông rút đơn khởi kiện.

 

Trong năm 2004, bà KN có trả ông nhiều lần tiền, tổng cộng là 10.000 USD. Sau đó, ông có đòi tiền bà KN nhưng không được, nên ông tiếp tục khởi kiện yêu cầu bà KN trả ông 214 lượng vàng SJC (sau khi trừ số tiền ông đã nhận gồm: 4.000 USD, 26.000.000 đồng và 10.000 USD) (ông không yêu cầu trả lãi).

 

 

Việt kiều thường gửi tiền nhờ họ hàng mua hộ nhà đất

 

Bà KN có yêu cầu phản tố và trình bày:

 

Năm 2000, bà quen biết và chung sống như vợ chồng với ông NJ. Ông NJ có đưa cho bà 7.000 USD, không nêu lý do hay điều kiện gì, bà đã đổi được 194 lượng vàng và ông NJ đồng ý dùng số tiền này để làm ăn chung với bà. Việc làm ăn sinh lời, bà và ông NJ đã dùng một phần tiền để xây nhà cho ông NJ tại 300/10 Xô Viết Nghệ Tĩnh, nên tính đến tháng 7/2002 số vàng của ông NJ còn 275 lượng và 24.500 USD. Sau đó, việc làm ăn không được tốt nên ông NJ đòi tiền, bà đã viết giấy hẹn đến ngày 15/8/2002 sẽ trả, nhưng chưa trả được. Năm 2003, bà cùng ông NJ ra Hà Nội, trong chuyến đi, ông NJ tự ý lấy của bà 4.000 USD và 01 giấy chứng nhận, sau đó khởi kiện đòi tiền bà. Tại buổi hòa giải ngày 30/9/2003, bà và ông NJ đã viết 02 biên nhận có nội dung như ông NJ trình bày, sau đó ông NJ rút đơn khởi kiện. Cũng tại buổi hòa giải này, Thẩm phán có giải thích việc ông NJ giữ giấy chứng nhận của bà là sai, cần trả lại bà.  

 

Sau khi viết biên nhận ngày 30/9/2003, bà đã trả hết số vàng còn nợ cho ông NJ, cụ thể: lần 1 ngày 12/10/2003 trả 10 lượng vàng, lần 2 ngày 25/10/2003 trả 20 lượng vàng, lần 3 ngày 18/11/2003 trả 190 lượng vàng; ông NJ đã trả lại giấy chứng nhận cho bà sau khi nhận đủ vàng ngày 18/11/2003 tại nhà ông NJ. Việc trả vàng và giấy chứng nhận đều không làm giấy tờ gì và bà cũng không thu lại giấy biên nhận nợ viết ngày 30/9/2003 từ ông NJ, vì hai bên vẫn còn quan hệ tình cảm, hơn nữa bà nghĩ bà trả tiền cho ông NJ, ông NJ trả giấy chứng nhận cho bà nên không cần làm biên nhận. Như vậy, bà đã trả hết vàng cho ông NJ nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông NJ.

 

Năm 2004, ông NJ mượn tiền của bà nhiều lần, tổng cộng là 10.000 USD, có viết biên nhận. Ngoài ra, cũng trong năm 2004, ông NJ lái ô tô gây tai nạn chết người, bà đại diện cho ông NJ đứng ra bồi thường cho gia đình nạn nhân hết 150.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu ông NJ trả bà 10.000 USD đã mượn và 150.000.000 đồng bồi thường tai nạn.

 

Tại bản án dân sự sơ thấm số 200/2007/DS-ST ngày 25/8/2007, Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh BRVT quyết định:

 

Bác yêu cầu đòi tài sản của ông NJ đối với bà KN về việc đòi 214 lượng vàng SJC.

 

Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà KN. Ghi nhận ông NJ trả cho bà KN 160.400.000 đồng tương đương 10.000 USD.

 

Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ông NJ được nhận lại số tiền buộc thực hiện biện pháp bảo đảm là 100.000.000 đồng.

 

Sau đó, ông NJ kháng cáo.

 

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 135/2007/DS-PT ngày 22/12/2007, Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT quyết định: giữ nguyên bản án sơ thẩm.

 

Sau đó, ông NJ có đơn đề nghị xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm.

 

Tại Quyết định số 201/2008/KN-DS ngày 20/2/2008, Chánh án TANDTC kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Tòa Dân sự TANDTC xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND thành phố VT xét xử sơ thẩm lại.

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 60/2008/DS-GĐT ngày 12/3/2008, Tòa Dân sự TANDTC quyết định:

 

Hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao về xét xử sơ thẩm lại.

 

Tại bản án dân sự sơ thấm số 59/2009/DS-ST ngày 02/3/2009, Tòa án nhân dân thành phố VT quyết định:

 

Bác yêu cầu đòi tài sản của ông NJ đối với bà Phạm Thị Kim KN về việc đòi 214 lượng vàng SJC.

 

Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà KN đối với ông NJ. Ông Nguyễn NJ có trách nhiệm trả bà KN số tiền 73.095.600 đồng.

 

Sau đó, ông NJ kháng cáo.

 

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 107/2009/DS-PT ngày 31/8/2009, Tòa án nhân dân tỉnh BRVT quyết định:

 

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông NJ về việc yêu cầu đòi tài sản là 234 lượng vàng SJC đối với bà KN.

 

Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà KN yêu cầu ông NJ trả 10.000USD.

 

Sau khi khấu trừ nghĩa vụ về tài sản giữa ông NJ và bà KN, buộc bà KN phải trả ông NJ 214 lượng vàng SJC.

 

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của ông NJ yêu cầu bà KN trả lãi và phục hồi số tiền đảm bảo thi hành án.

 

NHẬN ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ:

 

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là biên nhận của bà KN (không đề ngày tháng năm) xác nhận có giữ của ông NJ 275 lượng vàng và 24.500 USD, hẹn đến ngày 15/8/2002 sẽ thanh toán, 02 biên nhận lập tại Tòa án ngày 30/9/2003, cũng như lời khai của bà KN, ông NJ trong quá trình giải quyết vụ án, đủ cơ sở xác định đến thời điểm ngày 30/9/2003 bà KN còn giữ của ông NJ 234 lượng vàng, ông NJ giữ của bà KN 4.000 USD + 26.000.000 đồng + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù các biên nhận nêu trên không ghi rõ loại vàng giao dịch, nhưng căn cứ lời khai của ông NJ xác định đã đưa cho bà KN 275 lượng vàng SJC, và yêu cầu bà KN trả 214 lượng vàng SJC (sau khi trừ số tiền ông NJ đã nhận), quá trình giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm (lần 1) Tòa án đều xác định vàng giao dịch là loại SJC, bà KN không phản đối nên có cơ sở xác định hai bên giao dịch bằng vàng SJC.

 

Bà KN cho rằng sau khi viết biên nhận ngày 30/9/2003, bà đã trả cho ông NJ 220 lượng vàng sau khi đối trừ tiền ông NJ nợ, nhưng bà KN không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Ông NJ không thừa nhận bà KN đã trả vàng. Thực tế ông NJ vẫn giữ biên nhận nợ của bà KN.

 

Đối với việc ông NJ trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà KN thì hai bên khai không thống nhất về lý do và địa điểm trả giấy chứng nhận. Bà KN cho rằng sau khi bà trả đủ vàng cho ông NJ thì ông NJ trả giấy chứng nhận cho bà tại nhà ông NJ, nhưng ông NJ cho rằng do được Thẩm phán giải thích việc giữ giấy chứng nhận là sai nên ông đã trả ngay cho bà KN tại Tòa án. Lời khai của ông NJ phù hợp với xác nhận của Thẩm phán là ông có giải thích về việc ông NJ giữ giấy chứng nhận là không đúng và yêu cầu trả ngay cho bà KN (còn việc giao trả thế nào thì Thẩm phán không chứng kiến), chính bà KN cũng xác định Thẩm phán có giải thích như vậy, do đó, lời khai của ông NJ là có cơ sở hơn. Hơn nữa, cả ông NJ và bà KN cùng thừa nhận ông NJ lén lút lấy giấy chứng nhận của bà KN, để gây áp lực buộc bà KN trả tiền; giữa ông NJ và bà KN không có thỏa thuận nào về việc ông NJ giữ giấy chứng nhận của bà KN để đảm bảo cho khoản vàng mà bà KN giữ của ông NJ, trong trường hợp bà KN không trả vàng cho ông NJ thì ông NJ cũng không thể dùng giấy chứng nhận này để tiến hành các thủ tục thu hồi nợ được, nên không thể xác định ông NJ giữ giấy chứng nhận của bà KN là một biện pháp đảm bảo.  Do đó, không thể suy diễn rằng ông NJ trả giấy chứng nhận cho bà KN có nghĩa là bà KN đã trả hết vàng cho ông NJ.

 

Bà KN cho rằng đến ngày 18/11/2003 bà đã trả đủ ông NJ 220 lượng vàng nhưng không viết biên nhận là khó có cơ sở chấp nhận, vì thời điểm này hai bên đã có mâu thuẫn, vừa phải đưa nhau ra Tòa, số tiền bà KN trả rất lớn, đồng thời ngay sau đó vào tháng 2, 3/2004 bà KN đưa cho ông NJ 10.000 USD thì ông NJ vẫn viết biên nhận cho bà KN. Do đó, việc bà KN cho rằng đã trả ông NJ 220 lượng vàng mà không viết biên nhận là không phù hợp với thực tế, khó có cơ sở chấp nhận.

 

Tòa án cấp phúc thẩm (lần 2) đã căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bên để chấp nhận yêu cầu của ông NJ, buộc bà KN trả ông NJ 214 lượng vàng SJC là có cơ sở.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH TƯ VẤN
Hotline: 096 9920 558