Vụ án tranh chấp đất 03 ở Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

 

Nguyên đơn là ông Cao Xuân N trình bày:

 

Năm 1990, vợ chồng ông đi công nhân về quê nên không được xét tiêu chuẩn chia ruộng đất nông nghiệp.

 

Năm 1993, cha của ông được chia đất ruộng nông nghiệp ở doanh trại bộ đội với tổng diện tích là 525m2 và đã cho vợ chồng ông diện tích đất này. Do vậy, khi chính quyền báo đi nhận ruộng ông đã đi nhận với diện tích là 525m2. Sau khi nhận ruộng ông đã để cho chị gái làm, sau chị không làm để cho vợ chồng người em trai là ông K (chết năm 2000), bà C làm. Vợ chồng K, bà C làm từ năm 1993 đến năm 1998 thì cho thuê không hỏi ý kiến ông.

 

Năm 2003, ông thấy có người xây dựng nền và chắn hàng rào xung quanh thửa đất, ông có hỏi thì bà C nói là đã cho thuê đến năm 2006 sẽ trả lại ông.

 

Năm 2006, ông bảo bà C trả lại ruộng thì bà C nói là đã được bố mẹ chồng cho toàn quyền sử dụng nên không trả.

 

 

Tranh chấp đất 03 ở Hưng Yên

 

Bị đơn là bà C trình bày:

 

Năm 1993, Nhà nước chia lại ruộng đất cho các hộ gia đình để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời gian này cha mẹ chồng vẫn ở với gia đình bà, theo tiêu chuẩn gia đình được chia 07 suất.

 

Ngày chia ruộng đất gia đình bà không có nhà nên ông N đã đi nhận và kê khai diện tích đất tại sứ Đồng Doanh trại mang tên ông N.

 

Năm 1994 và năm 2000, cha mẹ chồng lần lượt qua đời. Trước khi mất các cụ có nhờ người viết giấy giao quyền sở hữu ruộng đất và giao trách nhiệm thờ cúng liệt sỹ cho vợ chồng bà.

 

Gia đình bà sử dụng đất ruộng từ năm 1993 đến năm 1998 thì cho thuê đến nay. Bà không đồng ý trả lại đất cho ông N.

 

Tại bản án dân sự sơ thấm số 007/DS-ST ngày 05/8/2007, Tòa án nhân dân huyện VG quyết định:  

 

Buộc bà C phải trả lại cho ông N 525m2 đất tại tờ bản đồ số 3A thửa 3/14 xứ đồng Doanh trại nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 340 mang tên ông N.

 

Sau đó, bà C có đơn kháng cáo.

 

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 500/2007/DS-PT ngày 20/12/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên quyết định:

 

Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí. Các phần khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

 

NHẬN ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ

 

Bà N cho rằng bà được bố mẹ di chúc để lại cho diện tích đất tranh chấp nhưng bà không đưa ra được tài liệu có giá trị pháp lý chứng minh.

 

Năm 1993, UBND VG đã tiến hành đo đạc, điều chỉnh và giao đất ruộng nông nghiệp cho các hộ gia đình theo Nghị quyết 03 của tỉnh uỷ Hải Hưng. Vợ chồng ông N không thuộc tiêu chuẩn được chia đất, nhưng đã được bố mẹ cho 525m2 đất ruộng ở xứ Đồng Doanh trại để canh tác. Việc cho này có nhiều người biết và được địa phương thừa nhận. Ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi vẫn còn sống.

 

Bà C cũng thừa nhận thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N là đúng và hợp pháp. Trong quá trình xét xử phúc thẩm bà C còn xin ông N ½ diện tích đất tranh chấp để canh tác. Do đó, đủ cơ sở để khẳng định diện tích đất tranh chấp là của cha mẹ cho vợ chồng ông N canh tác.

 

Toà án các cấp buộc bà C phải trả lại đất cho ông N là có căn cứ và đúng pháp luật

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:

Tags

Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH TƯ VẤN
Hotline: 096 9920 558