Cha mẹ chồng không thể đòi lại nhà đất dù cho bằng miệng (Quảng Ninh)

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị G trình bày:

 

Năm 1960, cha mẹ chồng của bà cho vợ chồng bà hơn 1000m2 đất tại thôn Đồn Điền, xã Việt Hưng (nay là tổ 93 khu Đồn Điền, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Năm 1972, chồng của bà hy sinh, bà tiếp tục sử dụng phần đất này.

 

Tranh chấp đòi nhà đã tặng cho tại Hà Khẩu, Hạ Long, Quảng Ninh

 

Năm 1993, anh Trần Văn K (là con của bà) kết hôn với chị Đinh Thị D và ở cùng bà tại căn nhà cấp 4 trên diện tích đất hơn 1000m2 nêu trên do vợ chồng bà xây dựng.

 

Năm 1998, bà cho vợ chồng chị D, anh K mượn 266m2 đất trong tổng diện tích đất hơn 1000m2 để vợ chồng chị D xây nhà, làm quán bán hàng sinh sống, còn bà vẫn sống tại nhà cấp 4 cũ. Việc mượn đất giữa bà với vợ chồng chị D, anh K chỉ thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản và không quy định thời hạn trả. Tháng 7/1998, anh K chết, bà cùng chị D tiếp tục bán hàng để nuôi hai con chung của chị D, anh K.

 

Năm 2005, chị D kết hôn với anh Trần Mạnh C, anh C về sống cùng với mẹ con chị D tại diện tích đất bà cho mượn, bà không đồng ý. Chị D còn tự ý kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất mượn của bà nhưng không thành, vì bà phát hiện và có đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền dừng việc cấp giấy chứng nhận cho chị D.

 

Nay, bà yêu cầu chị D trả lại diện tích đất đã mượn. Bà không tranh chấp tài sản có trên đất và đồng ý thanh toán giá trị cho chị D theo giá mà Hội đồng định giá quyết định là 75.176.000 đồng, nếu chị D không đồng ý thì yêu cầu tháo dỡ công trình trả lại đất cho bà.

 

Bị đơn là chị Đinh Thị D trình bày:

 

Năm 1993, chị kết hôn với anh K (là con của bà G), rồi sống cùng bà G tại căn nhà cấp 4 trên diện tích đất hơn 1000m2 của vợ chồng bà G. Năm 1994, bà G cho vợ chồng chị 266m2 đất trong phần đất nêu trên nên vợ chồng chị đã xây tạm căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 30m2 để sinh sống và làm quán bán hàng. Năm 1998, vợ chồng chị phá nhà cũ xây lại nhà mới như hiện nay. Tháng 7/1998, anh K chết, chị tiếp tục bán hàng kiếm tiền nuôi hai con chung của chị với anh K.

 

Năm 2006, chị kết hôn với anh C (đã chết tháng 3/2009), chị có xin bà G được tiếp tục ở trên mảnh đất bà cho từ năm 1994 để làm ăn nuôi con, bà G đã đồng ý, việc này chỉ thỏa thuận miệng giữa chị và bà G, không được lập thành văn bản. Tuy nhiên, sau đó anh Trần Văn L (là con của bà G) đã đổ đá, gạch vào cửa nhà chị, không cho mẹ con chị bán hàng, đồng thời anh L xúi giục bà G đòi lại đất của chị.

 

Chị không đồng ý với yêu cầu đòi đất của bà G vì bà G đã cho vợ chồng chị từ năm 1994, chị đề nghị giao toàn quyền nhà đất cho 2 con chung của chị với anh K là cháu Trần Thị N (sinh năm 1996) và cháu Trần Thị M (sinh năm 1994). Chị xác định không tranh chấp tài sản trên đất và cũng không đồng ý nhận 75.176.000 đồng giá trị tài sản trên đất từ bà G.

 

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

 

Tại bản án dân sự sơ thấm số 17/2011/DS-ST ngày 26/8/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh quyết định:

 

Buộc chị Đinh Thị D phải trả lại cho bà Nguyễn Thị G diện tích 266m2, trên đất có ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ diện tích sử dụng 120m2 thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ địa chính số 199 – khu Đồn Điền – phường Hà Khẩu – thành phố Hạ Long.

 

Bà Nguyễn Thị G được quyền sở hữu ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ có diện tích sử dụng 120m2 xây dựng trên thửa đất số 36, tờ bản đồ địa chính số 199 – khu Đồn Điền – phường Hà Khẩu – thành phố Hạ Long và phải có trách nhiệm thanh toán cho chị Đinh Thị D toàn bộ trị giá ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ nêu trên là 75.176.000 đồng.

 

Sau đó, chị Đinh Thị D kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

 

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 46/2011/DS-PT ngày 16/12/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận định:

 

Chị D và bà G đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của cố Thời  (là cha của ông Ngờ - chồng của bà G) cho vợ chồng bà G từ năm 1960. Chị D cho rằng được bà G cho diện tích đất tranh chấp từ năm 1994, bà G cho rằng chỉ cho vợ chồng chị D mượn nhưng đều không xuất trình được chứng cứ chứng minh.

 

Các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đều không xuất trình được một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai. Chính quyền địa phương cũng không cung cấp được các thông tin về quản lý đất theo quy định của Luật Đất đai hiện hành. Do đó, tranh chấp kiện đòi đất của bà G đối với chị D không thuộc  thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mà thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND như quy định tại Khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai. Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị D trả bà G diện tích đất tranh chấp đã mượn là không đúng.

 

Từ đó quyết định: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 17/2011/DS-ST ngày 26/8/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đình chỉ giải quyết vụ án. Trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo cho bà Nguyễn Thị Gái.

 

Sau đó, bà Nguyễn Thị G và chị Đinh Thị D cùng khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đến Tòa án nhân dân tối cao.

 

Ý KIẾN CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO CHỊ D

 

Các đương sự đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp 266m2 là một phần trong tổng diện tích đất hơn 1000m2 tại khu Đồn Điền, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có nguồn gốc là của vợ chồng bà G, ông Ngờ do được cha mẹ ông Ngờ cho từ năm 1960. Năm 1972, ông Ngờ chết không để lại di chúc, bà G cùng các con tiếp tục sử dụng phần đất này (hơn 1000m2).

 

Năm 1993, chị D kết hôn với anh K (là con của bà G, ông Ngờ) và ở cùng với bà G tại căn nhà cấp 4 do vợ chồng bà G xây dựng. Bà G cho rằng, năm 1998, bà cho vợ chồng chị D mượn diện tích đất tranh chấp để vợ chồng chị D xây nhà và quán bán hàng, sau khi xây xong nhà quán đến tháng 7/1998, anh K chết, bà G cùng chị D tiếp tục bán hàng để nuôi 2 con chung của anh K, chị D là cháu N và cháu M. Năm 2005, chị D kết hôn với anh C (chết tháng 2/2009) rồi đưa nhau về sống tại diện tích đất bà cho mượn.

 

Nay bà G yêu cầu chị D trả lại diện tích đất tranh chấp bà cho mượn, còn công trình trên đất bà không tranh chấp vì đây là tài sản do chị D, anh K xây dựng, bà đồng ý trả giá trị công trình trên đất theo giá Hội đồng định giá đã xác định là 75.176.000 đồng, nếu chị D không chấp nhận thì yêu cầu tháo dỡ công trình trả lại đất cho bà. Tuy nhiên, chị D cho rằng năm 1994, bà G cho vợ chồng chị diện tích đất tranh chấp, vợ chồng chị đã xây nhà ở tạm và bán hàng từ đó đến năm 1998 thì phá đi xây dựng lại như hiện nay nên không đồng ý trả đất như yêu cầu của bà G, mà yêu cầu bà G giao toàn quyền cho cháu N và cháu M diện tích đất, chị cũng đồng ý giao toàn bộ tài sản trên đất cho cháu N và cháu M.

 

Tại Công văn số 158 ngày 19/11/2011, UBND phường Hà Khẩu xác định diện tích đất tranh chấp không có tên trong sổ địa chính của phường, phường cũng không nhận được bàn giao sổ địa chính từ xã Việt Hưng (BL 135). Tại Biên bản xác minh ngày 01/12/2011, ông Nguyễn Bình Thiên (Chủ tịch UBND xã Việt Hưng) cho biết: xã chỉ có sổ mục kê bản đồ đo vẽ năm 2003 thì toàn bộ hiện trạng khu đất của gia đình bà G đang quản lý đứng tên các con của bà G là anh Long (thửa 42), chị D (thửa 36), anh L (thửa 41) và chị Tâm (thửa 38); trước năm 2003, xã không được bàn giao từ huyện Bồ Hoành cũ (BL 137). Trong khi chưa xác minh tại UBND huyện Bồ Hoành cũ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng diện tích đất tranh chấp chưa có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai nên tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án, từ đó đình chỉ giải quyết vụ án là thiếu cơ sở.  Mặt khác, các đương sự đều thừa nhận đất tranh chấp có nguồn gốc do cha ông để lại, trên đất có nhà và công trình của vợ chồng chị D xây dựng từ năm 1993 nên trường hợp này Tòa án phải thụ lý giải quyết vụ án. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng.

 

Về nội dung: căn cứ Biên bản xác minh về quá trình sử dụng đất và thời điểm xây dựng nhà ở ngày 23/6/2011 của UBND phường Hà Khẩu, phù hợp với lời khai của chị D thì vợ chồng chị D xây dựng nhà và ở ổn định trên diện tích đất tranh chấp từ năm 1994, đến năm 1998 thì phá nhà cũ xây dựng lại nhà như hiện nay, quá trình vợ chồng chị D sử dụng, xây dựng công trình bà G không phản đối, nên có cơ sở xác định bà G đã cho vợ chồng chị D diện tích đất tranh chấp. Do đó, trong trường hợp này phải xác định bà G đã cho vợ chồng chị D nhà, đất, từ đó cần công nhận diện tích đất tranh chấp cho vợ chồng chị D mới hợp tình hợp lý. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bà G chỉ cho vợ chồng chị D mượn đất để buộc chị D trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà G là không phù hợp với thực tế.

 

Tại Quyết định kháng nghị số 298/2013/KN-DS ngày 12 tháng 7 năm 2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm nêu trên.

 

Tại Quyết định số 199/2013/QĐ-GĐT ngày 25 tháng 10 năm 2013, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

 

Diện tích đất tranh chấp 266m2 là một phần trong tổng diện tích đất hơn 1000m2 tại khu Đồn Điền, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có nguồn gốc là của vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Trần Văn Ngờ do được cha mẹ ông Ngờ cho từ năm 1960. Năm 1972, ông Ngờ chết không để lại di chúc, bà G cùng các con tiếp tục sử dụng phần đất này (hơn 1000m2). Năm 1993, chị Đinh Thị D kết hôn với anh Trần Văn K (là con của bà G, ông Ngờ) và ở cùng với bà G tại căn nhà cấp 4 do vợ chồng bà G xây dựng.

 

Bà G cho rằng, năm 1998, bà cho vợ chồng chị D, anh K mượn diện tích đất tranh chấp để vợ chồng chị D xây nhà và quán bán hàng. Tháng 7/1998, anh K chết không để lại di chúc, bà G cùng chị D tiếp tục quản lý phần nhà do vợ chồng chị D xây dựng để bán hàng nuôi 2 con chung của anh K, chị D là cháu Trần Thị N và cháu Trần Thị M. Năm 2005, chị D kết hôn với anh C (chết tháng 2/2009) sống tại nhà, đất nêu trên. Bà G cho rằng chỉ cho anh K, chị D mượn đất nên yêu cầu chị D trả lại diện tích đất tranh chấp, bà đồng ý trả giá trị công trình trên đất cho chị D theo giá mà Hội đồng định giá xác định là 75.176.000 đồng, nếu chị D không chấp nhận thì yêu cầu tháo dỡ công trình trả lại đất cho bà. Tuy nhiên, chị D không đồng ý với yêu cầu của bà G vì cho rằng năm 1994, bà G đã cho vợ chồng chị diện tích đất tranh chấp, vợ chồng chị đã xây nhà ở và quán bán hàng từ đó đến năm 1998 thì phá đi xây dựng lại như hiện nay.

 

Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Hà Khẩu và Ủy ban nhân dân xã Việt Hưng (là những địa phương quản lý phần đất tranh chấp về địa giới hành chính từ năm 2003 đến nay) thì phần đất tranh chấp không có ai kê khai, đứng tên trong sổ địa chính của phường Hà Khẩu, mà chỉ có sổ mục kê bản đồ địa chính đo vẽ năm 2003, trước năm 2003 do Ủy ban nhân dân huyện Hoành Bồ (cũ) quản lý. Trong khi chưa xác minh tại cơ quan có thẩm quyền về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp, đồng thời quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông Ngờ để lại, trên đất có nhà và công trình của vợ chồng chị D xây dựng từ năm 1993 nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án là đúng.

 

Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng diện tích đất tranh chấp chưa có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai nên tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án, từ đó hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án là chưa đủ căn cứ. 

 

Căn cứ vào Biên bản xác minh về quá trình sử dụng đất và thời điểm xây dựng nhà ở ngày 23/6/2011 của Ủy ban nhân dân phường Hà Khẩu thể hiện vợ chồng chị D xây dựng nhà ở ổn định trên diện tích đất tranh chấp từ năm 1994, đến năm 1998 thì phá nhà cũ xây dựng lại nhà như hiện nay, điều này phù hợp với lời khai của chị D. Thực tế, quá trình vợ chồng chị D sử dụng, xây dựng công trình bà G không phản đối, nên có cơ sở xác định bà G đã cho vợ chồng chị D diện tích đất tranh chấp. Lẽ ra, phải xác định diện tích đất trên là của anh K, chị D, trên cơ sở đó xác định phần công sức của anh K nhiều hơn để chia thừa kế theo pháp luật và công nhận chị D có quyền sở hữu, sử dụng phần nhà đất của chị (trong đó có phần diện tích thừa kế của anh K) mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bà G chỉ cho vợ chồng chị D mượn, từ đó buộc chị D trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà G là không đúng, không phù hợp với thực tế.

 

Mặt khác, thực tế diện tích đất tranh chấp do chị D và cháu N, cháu M sử dụng nhưng khi giải quyết vụ án Tòa án không xác định chị D là đại diện của hai cháu cũng là không đúng.

 

Từ đó quyết định: hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 17/2011/DS-ST ngày 26/8/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH TƯ VẤN
Hotline: 096 9920 558