Bảo vệ quyền lợi của Việt Kiều khi gửi tiền nhờ người thân ở Việt Nam mua hộ nhà, đất

Ông Hà Đức Minh và bà Lê Thị Kim Tuyến khởi kiện cho rằng căn nhà số 5 và số 7 đường Lê Lợi, khu vực 1, Phường Ngã Bảy, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang là của ông Minh, bà Tuyến mua từ năm 1998. Do ông Minh, bà Tuyến định cư ở nước ngoài, lúc đó Nhà nước không cho vợ chồng ông ông Minh, bà Tuyến đứng tên nhà, nên mới nhờ vợ chồng ông Tình (anh rể ông Minh), bà Xinh (chị gái ông Minh) đứng tên dùm.  Sau đó ông  Minh, bà Tuyến sửa chữa thành 2 căn nhà số 5 và căn nhà số 7. Căn nhà số 5 do gia đình ông Hà Đức Anh (anh trai ông Minh) quản lý sử dụng, căn nhà số 7 do gia đình ông Tình quản lý sử dụng. Mỗi tháng vợ chồng ông Minh vẫn gửi tiền về cho gia đình ông Anh  3.000.000đ và gia đình ông Tình  3.000.000đ nhờ quản lý nhà dùm. Ông Minh, bà Tuyến yêu cầu ông Tình  cùng những người thừa kế khác của bà Xinh là anh H1, chị D (là 2 con của ông Tình, bà Xinh) trả lại cho ông Minh, bà Tuyến căn nhà nêu trên.

 

Phía ông Tình cho rằng hai căn nhà nêu trên do vợ chồng ông Tình được ông Minh  cho tiền để mua của Ban Tài chính tỉnh ủy tỉnh Cần Thơ vào năm 1989. Vợ chồng ông Tình đã sửa lại và cho ông Anh  ở nhờ căn nhà số 5 còn căn nhà số 7 thì gia đình ông Tình sử dụng. Việc ông Minh,  bà Tuyến  gửi tiền về là cho vợ chồng ông Tình chi phí gia đình và làm ăn, chứ không phải gửi tiền về để mua nhà dùm và thuê trông coi quản lý nhà. Ông Tình, ông H1, bà D không chấp nhận yêu cầu của ông Minh và bà Tuyến ; đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận hai căn nhà nêu trên là của gia đình ông Tình.

 

Ông Anh thống nhất với lời trình bày của ông Minh, bà Tuyến. Xác định căn nhà số 5 và số 7 là do ông Minh, bà Tuyến gửi tiền về nhờ vợ chồng ông Tình, bà Xinh mua hộ, sau đó nhờ ông trông nom, quản lý hộ căn nhà số 5, vợ chồng ông Tình, bà Xinh trông nom và quản lý căn nhà số 7. Không có việc ông ở nhờ nhà của vợ chồng oobg Tình, bà Xinh.

 

Như vậy, các đương sự đều thừa nhận hai căn nhà số 5 và số 7 có nguồn gốc mua của Ban Tài chính tỉnh ủy tỉnh Cần Thơ. Trong quá trình giải quyết vụ án phía ông Tình có nhiều lời khai không thống nhất, lúc thì cho rằng được ông Minh cho tiền để vợ chồng ông Tình mua khu nhà, đất này; lúc thì trình bày tài sản này do ông Minh  mua cho vợ chồng ông Tình để ở. Về phía ông Minh, bà Tuyến không thừa nhận lời trình bày của ông Tình. Hơn nữa, tại “Tờ xác nhận” ngày 01/4/1998 có nội dung ông Tình đã thừa nhận tiền mua nhà là của ông Minh, nhờ ông Tình đứng tên, vợ chồng ông Tình không được quyền chuyển nhượng, sang bán, cầm cố, cho tặng bất cứ ai, không được quyền lập di chúc cho người khác sử dụng đối với tài sản này. Ngoài ra, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà thì vợ chồng ông Minh là người giữ giấy chủ quyền này cho đến nay. Như vậy, đủ căn cứ xác định khu nhà, đất số 5 và 7 nêu trên là tài sản của vợ chồng ông Minh. Việc vợ chồng ông Minh không đứng tên mua nhà là do chính sách của Nhà nước lúc đó không cho người thuộc diện như ông Minh, bà Tuyến mua nhà, còn thực tế vợ chồng ông Tình chỉ đứng tên dùm.

 

Về công sức giữ tài sản đứng tên dùm: Phía ông Tình thừa nhận sau khi mua nhà xong thì vợ chồng ông Minh vẫn gửi tiền về cho gia đình ông Tình. Ông Anh thừa nhận cũng được ông Minh gửi tiền về và xác định khoản tiền ông Minh gửi về cho gia đình ông Anh và gia đình ông Minh hàng tháng là tiền nhờ trông coi nhà dùm mỗi tháng 3.000.000đ một người. Tuy nhiên, phía ông Tình cho rằng đây là khoản tiền vợ chồng ông Minh gửi về cho gia đình ông Tình, nên căn cứ vào Án lệ số 02 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nhân dân tối cao thì nếu có căn cứ xác định được chi phí công sức gìn giữ thì phải trả cho phía người gìn giữ khoản tiền công sức gìn giữ tài sản. Ông Anh được ông Minh, bà Tuyến gửi về mỗi tháng 3.000.000đ để quản lý nhà dùm, cùng thời điểm này ông Tình cũng là người được ông Minh, bà Tuyến  giao nhà quản lý. Do đó cần buộc ông Minh, bà Tuyến phải trả cho ông Tình và những người thừa kế của bà Xinh  số tiền công sức quản lý nhà là phù hợp.

 

 Đối với số tiền nộp các khoản thuế và tiền sửa chữa nhà: Trong quá trình giải quyết vụ án, phía ông Tình không yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm phía ông Minh có ý kiến xác định toàn bộ các khoản tiền thuế cũng như tiền sửa chữa tôn tạo nhà là do ông Minh bỏ ra, chứ không phải phía ông Tình bỏ ra, nếu ông Tình  có chứng cứ mới xác định các khoản thuế và các khoản sửa chữa tôn tạo nhà thì phí ông Minh sẽ thanh toán theo quy định của pháp luật. Phía ông cũng Tình cho rằng thực tế sửa chữa không nhiều vì căn nhà vẫn còn nguyên kết cấu như trước đây và vẫn không yêu cầu giải quyết các khoản này.

 

Do đó, Tòa án các cấp đã quyết định:

 

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Đức Minh và bà Lê Thị Kim Tuyến. Công nhận căn nhà và đất số 7 Lê Lợi, khu vực 1, phường Ngã Bảy, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 02/7/1998 do ông Trần Văn Tình và bà Xinh đứng tên thuộc quyền sử dụng và sở hữu của ông Hà Đức Minh và bà Lê Thị Kim Tuyến. Ông Minh và bà Tuyến có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định. Buộc ông Trần Văn Tình, ông Trần Ngọc H1 và bà Trần Ngọc D  di dời vật dụng và tài sản để trả lại cho ông Hà Đức Minh và bà Lê Thị Kim Tuyến căn nhà và đất số 7 Lê Lợi, khu vực 1, phường Ngã Bảy, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

 

Dành quyền lưu cư cho ông Tình, ông H1 và bà D  trong thời hạn 06 tháng để di dời vật dụng, tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Tình, ông H1 và bà D  để giao trả lại hai căn nhà trên cho ông Minh, bà Tuyến.

 

Ông Hà Đức Minh và bà Lê Thị Kim Tuyến có trách nhiệm trả cho ông Tình số tiền mà ông Tình đã có công trông giữ, quản lý tài sản là căn nhà số 7 Lê Lợi, khu vực 1, phường Ngã Bảy, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang là 648.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng).

 

Ngoài ra, Tòa án còn quyết định về án phí và nghĩa vụ thi hành án.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH TƯ VẤN
Hotline: 096 9920 558